Blogger Widgets

Ai là người đầu tiên đưa cà phê arabica Việt Nam ra thế giới?


Việt Nam đang đứng đầu thế giới về sản lượng và xuất khẩu cà phê robusta. Nhưng ít ai biết, cà phê arabica, chỉ chiếm chưa đầy 15% tổng sản lượng cả nước, lại du nhập vào Việt Nam sớm hơn so với loại robusta.

      Cây cà phê Arabica cho lứa quả đầu ( Ảnh: Bolofarm )

Từ cuối thế kỷ 19, người Pháp đã đưa giống cà phê arabica vào trồng ở các đồn điền tại Phủ Quỳ, Diễn Đàn – Nghệ An. Những thập niên 60 của thế kỷ 20, loại cà phê này xuất hiện nhiều tại Pari và cả ở Liên Xô, được khách hàng rất chuộng, sau đó họ quay trở lại đầu tư các nhà máy chế biến tại Nghệ An.

Nhưng từ sau khi giải phóng miền Nam, chúng ta có chủ trương chuyển hướng đầu tư cho cây cà phê từ miền Trung vào trong khu vực Tây Nguyên. Đến năm 1985, Liên hiệp cà phê ra đời, là tiền thân của Tổng công ty cà phê Việt Nam (Vinacafe). Từ đó tới nay, cây cà phê ở phía Bắc và miền Trung gần như bị bỏ rơi.

Năm 1996, cà phê arabica Việt Nam lần đầu tiên được xuất khẩu chính thức với điểm đến mở đường là Hà Lan. Khi ấy, một công ty của Hà Lan đã tìm được 4 container để nhập về thông qua Vinacafe. Số hàng này bao gồm 2 container của Tập đoàn Thái Hòa, có nguồn gốc từ Nghệ An. Sau khi sang tới Hà Lan, khách hàng quay trở lại Việt Nam kèm theo những phản hồi xấu về chất lượng.

Khi nhận được phản hồi, các nhà cung cấp đã tiến hành phân tích, đánh giá để tìm nguyên nhân và cuối cùng phát hiện ra do cách chế biến không phù hợp, và số hàng bị hỏng không phải của Thái Hòa. Cụ thể là, cách chế biến cà phê của công ty kia vẫn làm theo tập quán của cà phê robusta tại Tây Nguyên, khi xuất đi lại không thay đổi chất chống ẩm, gặp thời tiết thay đổi ở châu Âu, dẫn đến chất lượng bị thay đổi và nếm không còn mùi arabica mà chỉ còn mùi robusta.

Ngoài ra, cà phê arabica của công ty đó có nguồn gốc từ Sơn La, là loại cà phê catimo – một giống cà phê lai ghép lấy từ giống timo hoang dại ghép với loại catora, nên tạo ra hương vị khác, mất đi giống arabica. Cà phê của Thái Hòa có nguồn gốc từ Nghệ An, là loại catora, nên giữ nguyên hương vị.

Tuy nhiên kể từ sau chuyến xuất khẩu đầu tiên đó, các doanh nghiệp của ta cũng không thể xuất đi được vì mất niềm tin. Mãi đến năm 1998 khi Trung Quốc lập thị trường cà phê giao dịch kỳ hạn Bắc Kinh với tham vọng giống như các thị trường kỳ hạn ở London, New York và Tokyo, và họ tìm mua hàng của Việt Nam. Thái Hòa đã ngay lập tức nối lại hoạt động xuất khẩu cà phê arabica. Tuy nhiên, tham vọng của giới kinh doanh Trung Quốc không thành công, họ buộc phải bán số hàng đã mua, cả của thị trường trong nước lẫn của Việt Nam.

Thái Hòa lúc ấy đã mạnh dạn mua lại cà phê arabica của sàn giao dịch Bắc Kinh, có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc, sau đó đưa về Việt Nam và phối trộn với loại arabica của hãng này, rồi lấy danh cà phê Việt Nam xuất khẩu đi các nước châu Âu.

Chủ tịch Tập đoàn Thái Hòa, ông Nguyễn Văn An cho biết, sau khi chuyến hàng đầu tiên của Thái Hòa xuất đi, với cà phê nguồn gốc Vân Nam phối trộn với cà phê trong nước, đã nhận được phản hồi tích cực từ phía khách hàng, và họ tìm đến Việt Nam nhiều hơn. Trong giai đoạn từ năm 1998 – 2001, Thái Hòa vẫn tiếp tục mua cà phê của Trung Quốc để tái xuất.

Những năm sau đó, khách hàng tìm lại Việt Nam nhiều hơn, không chỉ mua cà phê robusta truyền thống mà còn mua nhiều loại arabica. Cũng kể từ khi Thái Hòa có nhiều đơn hàng xuất đi thì hoạt động xuất khẩu cà phê arabica của Việt Nam mới ổn định. Vì thế, trong ngành đều thừa nhận, ông Nguyễn Văn An của Thái Hòa là người có công đầu đưa cà phê arabica của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Triển vọng ngành cà phê tươi sáng

Trao đổi với phóng viên của CafeF những ngày đầu năm Nhâm Thìn, ông Nguyễn Văn An cho biết, nhu cầu cà phê trên thế giới sẽ tiếp tục gia tăng, trong khi nguồn cung hạn chế vì quỹ đất bị giới hạn. Giá cà phê hiện tại chưa phản ánh đúng bản chất của thị trường, mà còn do giới đầu cơ lũng đoạn.

Ông An nhận định tương lai của ngành cà phê Việt Nam rất sáng sủa, vì các nhà sản xuất khác giờ đây tiêu thụ nhiều hơn, đang tìm đến mua hàng của Việt Nam. Indonesia và Ấn Độ là hai nước sản xuất quan trọng thứ 2 và thứ 3 của châu Á, nhưng lại đang là khách hàng quan trọng top 10 của chúng ta.

Đối với triển vọng phát triển cà phê arabica nói riêng, ông An cho rằng, giá cà phê trong nước đang ở mức cao nhất từ trước tới nay (13 – 15 nghìn đồng/kg cà tươi) là cơ hội để mở rộng sản xuất. Ngoài ra, chúng ta cũng nên chú trọng vào chất lượng, chẳng hạn thu hoạch cà phê phải để chín, chế biến đúng cách…để đảm bảo hương vị. Về xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm thị trường nhiều hơn, đặc biệt là các thị trường có nhu cầu ổn định, để đảm bảo giá trị xuất khẩu đạt mức cao.

Trên thế giới, giá cà phê arabica hiện ở mức trên 4.500 USD/tấn, trong khi cà phê robusta chỉ có 2.000 USD/tấn.

 

Nguồn tin: TTVN

Anh hùng với cà phê


Chúng ta đã biết sơ qua về lịch sử của và sự phát triển của cây cà phê cùng sức ảnh hưởng của nó đến các tầng lớp dân chúng. Xung quanh câu chuyện về cà phê còn có nhiều giai thoại liên quan đến các anh hùng, danh nhân… khá thú vị.
Napoleon
Một trong các nhân vật đem đến giai thoại về cà phê và Napoleon, người được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử cận đại tại châu Âu, người góp phần thay đổi cục diện thế giới.
Nói đến Napoleon, người ta thường nói nhiều đến các trận đánh oai hùng, các cuộc xâm chiếm mở mang bờ cõi bách chiến bách thắng, các lá thư tình đẫm yêu thương… Ít ai biết ông cũng có tình yêu mãnh liệt với cà phê, thứ nước uống mới được khám phá của thế giới vào thời gian đó, nhất là trong khoảng thời gian cuối đời khi ông bị giam cầm tại đảo St.Helena.
Hòn đảo bí mật
Saint Helena là một hòn đảo nhỏ lẻ loi nằm giữa Brazil và miền Tây Nam Châu Phi. Được người Bồ Đào Nha khám phá ra từ năm 1502, hòn đảo hoang vu này là một trong những nơi biệt lập nhất thế giới. Trong hơn 80 năm sau khi tìm ra hòn đảo này, người Bồ Đào Nha giữ bí mật này để dùng nó làm nơi tập dượt quân sự và củng cố đội thủy quân hùng mạnh của mình. Năm 1673, St.Helena bị Hà Lan chiếm đóng nhưng sau đó 4 tháng, Hà Lan lại thua trận Anh nên hòn đảo nhỏ này trở thành thuộc địa của Anh.
 
Ngày 15 tháng 10 năm 1815, Napoleon thua trận Waterloo và bị quân đội Anh bắt giữ. Anh quyết định dùng hòn đảo nhỏ biệt lập này để giam cầm kẻ tử tù quan trọng nhất thế giới. Napoleon được chở đến đảo và cầm tù tại Longwood cho đến ngày ông mất vào tháng 5 năm 1821. Trong khoảng thời gian giam cầm Napoleon, chính phủ Anh gia tăng lực lượng kiểm soát gắt gao tại đây với trùng điệp quân đội trên đảo và tàu bè đậu vòng quanh đảo.
Napoleon nghiện uống cà phê từ khi gặp người vợ đầu tiên của ông, Josephine. Từ năm 1795 , Josephine thường pha cho ông các cốc cà phê ngon tuyệt trồng từ khu đồn điền của gia đình bà tại Martinique. Gia đình bà có nuôi 150 nô lệ da đen làm việc tại đây và họ được đối xử rất tử tế, có lẽ vì sự ảnh hưởng này mà Napoleon đã ban hành luật chấm dứt nạn buôn no lệ tại Pháp năm 1802.

Những ngày cuối đời của Napoleon
Khi bị giam cầm tại St.Helena, Napoleon đã thốt lên câu nói còn được lưu truyền đến nay khiến hòn đảo nhỏ này trở nên nổi tiếng nhờ cà phê. Ông bảo “Điều thú vị duy nhất tại St.Helena này là cà phê”. Napoleon uống cà phê đều đặn mỗi ngày vào bữa điểm tâm lúc 6 giờ sáng, sau buổi trưa lúc 10 giờ và bữa chiều lúc 8 giờ cũng luôn kết thúc bằng tách cà phê thơm ngào ngạt rót ra từ bình làm bằng bạc mà ông ưa thích nhất.
Năm 1820, Napoleon đột nhiên yêu thích công việc trồng trọt và tự tay ông trông, tự tay ông chăm sóc các cây cà phê tại đây. Ông cảm thấy thật an bình và yên tĩnh nên mong muốn được chôn cất tại đây. Thung lũng trồng cà phê tại đảo này cũng là nơi nguyên thủy an tang Napoleon (sau này thi thể ông được đươc về nguyên quán Paris).
Sau này, người ta đã khai quật được nhiều di vật tại đây của Naponeon như các bộ ly tách dùng để uống trà và cà phê mạ vàng xinh đẹp được làm riêng cho ông, các chai rượu hay hòn đá xinh đẹp dùng để trang trí mộ của ông. Các di vật này được mang về và trưng bày tại bảo tang viện Lourve tại Paris.
… Và cà phê tại đảo St.Helena
Trong sử sách có ghi vào giây phút cuối đời, Napoleon tha thiết yêu cầu được bác sĩ cho uống dù chỉ một muỗng cà phê. Vị bác sĩ này từ chối nhiều lần nhưng Napoleon vẫn kiên nhẫn van xin. Có ý kiến cho rằng đó là do Napoleon mong muốn cà phê có thể giúp chữa lành bệnh cho mình, nhưng mọi người đều tin rằng với tình yêu cà phê thật mãnh liệt, vị vua lừng lẫy một thời này phút cuối đời chỉ muốn thưởng thức lại hương vị thơm ngon của loại nước uống này mà thôi.
Vào tháng 2 năm 1733, hạt cà phê thuần chủng giống Arabica mang tên Green Tipped Bourbon Arabica mang lên trồng tại đảo St.Helena và đến nay, cà phê trồng tại đây được các người sành điệu khen ngợi là một trong các loại cà phê ngon nhất thế giới bởi loại cà phê này rất đặc biệt và chất lượng thật hảo hạng.
Loại Geen Tipped Bourbon Arabica này có hương vị thơm ngào ngạt, lại rất khó trồng, đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt khi gieo trồng cũng như khi rang lên mới bảo đảm được hương vị đặc biệt của nó. Hòn đảo nhỏ gần như xa xôi tận cùng nhất của trái đất, khí hậu trong lành và thổ nhưỡng điều hòa ấm áp lại là nơi thích hợp cho giống cà phê phát triển. Hơn nữa, vốn là hòn đảo hình thành từ núi lửa xa xưa, đất tròng tại đây với lớp tro giàu khoáng chất, thêm nguồn phân xanh tự nhiên dồi dào từ các loài chim trên đảo và nguồn nước tưới trong lành từ các mạch nước ngầm, cây cà phê tại đây thật tươi tốt và hạt cà phê có hương vị thật đặc biệt.
Với sản lượng rất giới hạn do diện tích đảo St.Helena khá nhỏ, cà phê hiện Napoleon’s Valley Estate luôn là nhãn hiệu cà phê được giới sành điệu săn lùng nhiều nhất trên thế giới.

Nguồn tin: 24h.com.vn

Về sự hình thành và phát triển của cây cà phê trên thế giới sơ lược

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ TRÊN THẾ GIỚI.
1.1 Nguồn gốc
 Những câu chuyện về cà phê thì rất nhiều, thực hay hư thì cũng ít ai kiểm chứng, đôi khi họ phóng đại lên cho nó ly kỳ, thú vị như chính cái hậu vị để lại khi giọt cà phê tan vào trong từng tế bào cảm giác!
Trong những câu chuyện đó, từ chuyện nghe có vẻ hợp lý nhất là câu chuyện về anh chàng chăn dê tên Kaldi  người xứ Abyssinia với đàn dê của anh ta. Chuyện kể rằng, đàn dê của anh đã ăn một loại quả cây lạ có màu đo đỏ rồi sau đó có những biểu hiện lạ thường. Kaldi phát hiện ra điều đó, anh liều ăn thử và thấy mình hưng phấn hẳn lên, ngờ rằng mình đã gặp một phép lạ bèn báo ngay cho vị quản nhiệm ở một tu viện gần đó. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một thứ trái cấm của quỷ dữ nên lập tức vứt vào lò lửa, thế nhưng khi những quả kia cháy xém tỏa ra một mùi thơm lừng, đến lúc này người tu sĩ kia mới tin rằng đó là một món quà của Thượng Đế ban tặng nên vội kêu thêm những tăng lữ khác đến tiếp tay. Họ đem rang lên, giã nhỏ rồi pha vào nước uống để mọi người cùng hưởng thiên ân. Đến những câu chuyện về sự độc hại của cà phê, như câu chuyện ở đất nước Thụy Điển, quốc vương Gusitafu đệ tam muốn thử xem cà phê có độc hay không bèn ra quyết định bắt hai anh em tội phạm bị kết án tử hình đang giam trong ngục mỗi ngày phải được cho uống thứ nước làm từ quả ấy hai lần, thử xem họ chết ra sao? Đến lúc chết, vị hoàng đế này vẫn để lại di chỉ cho người kế vị là phải tiếp tục làm theo lệnh của ông ta, như một phép lạ, hai tử tù kia qua đời ở tuổi hơn 80! Và có lẽ đó là ghi nhận đầu tiên của loài người về tính dược lý của cà phê, …

 Đó là truyền thuyết, còn những di chỉ khảo cổ, những ghi chép của con người còn lại cho đến ngày nay. Người ta biết rằng,  Kaffa  (Ethiopia ngày nay) chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê, từ thế kỷ thứ IX đã có những ghi nhận ở đây, đến thế kỷ XIV những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang xứ Ả Rập. Nhưng tới tận thế kỷ XV người ta mới biết rang cà phê lên và sử dụng làm đồ uống. Cà phê đã trở thành một thức uống truyền thống của người Ả Rập và là nơi trồng cà phê độc quyền với trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay. Người Ả Rập rất tự hào về phát minh ra loại thức uống này và giữ bí mật để bảo tồn độc quyền về một loại sản phẩm. Họ đưa ra những chế tài rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất khẩu cà phê như: Chỉ mang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín,người ngoại quốc cũng bị cấm không cho bén mảng đến các đồn điền cà phê. Thế nhưng dù nghiêm ngặt đến mức nào thì cũng có người vượt qua được, những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút mang hạt giống về trồng, chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có trồng và truyền đi mỗi lúc một xa hơn.

1.2 Du nhập vào Châu Âu
 Sau nhiều lần thất bại, người Hà Lan là dân tộc đầu tiên ở Châu Âu lấy được hạt giống cây này mang về thử trồng ở đảo Java ( khi đó là thuộc địa của họ).
 Năm 1723, một sĩ quan hải quân Pháp tên De Clieu được về nghỉ phép ở Paris, đã quyết định đem cây này về xứ Martinique nơi anh trú đóng. Sau nhiều hoạn nạn De Clieu cũng trồng được cây cà phê ở một nơi kín đáo với 3 thủy thủ canh gác ngày đêm. Hơn 50 năm sau, Pháp trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt với Hà Lan, bất đồng xảy ra không thể giải quyết họ nhờ đến chính quyền Brasil đứng ra dàn xếp. Đây là cơ hội, với những quỷ kế, Brasil đã mang được hạt giống về nước và đây là khởi đầu cho giống cà phê trồng tại Brasil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ trở thành những đế quốc cà phê lớn bậc nhất thế giới.

 Trong khi đó, vào năm 1660 cà phê được người Hà Lan truyền vào Bắc Mỹ ở vùng Amsterdam, Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York, cà phê trở thành một thức uống quen thuộc chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà là thức uống phổ thông trong mọi tầng lớp. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh Hoàng George đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình thay đổi. Người Mỹ giả dạng dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tên Boston Tea Party đã làm cho người Mỹ nghiêng qua uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này trở thành quốc ẩm.

1. 3.  Lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt Nam
 Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống  Arabica được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Sau khi chiếm nước ta thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau. Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).

 Trận sương muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở  nước này, cộng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, … nhờ đó diện tích và sản lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa  tổng  diện  tích  cây  cà  phê  năm  2000  lên  đến  516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt  Nam  có  khoảng  520 nghìn  ha  cà  phê,  tổng  sản  lượng  đạt  800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và  diện  tích  vượt  xa  mọi  kế  hoạch  trước  đó  và  suy  đoán  của  các chuyên gia trong nước và quốc tế.

 Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông  nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang lại việc làm ổn định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người, …

2. Đặc tính cây cà phê
2.1. Đặc tính thực vật



 Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiên thảo (Rubiaceae). Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới.

 Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea liberica và chari (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể.

 Cà phê thuộc giống coffea gồm 70 loại khác nhau, nhưng chỉ có khoảng 10 loại có giá trị kinh tế và trồng trọt. Hiện nay thường trồng 3 loại chính:
 Giống Arabica.
 Giống Robusta.
 Giống Chari.
 Ba giống này có thời vụ xen kẽ nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt và thu hoạch.

2.1.1 Cà phê Arabica.
 Tên khoa học là Coffee arabica, thường được gọi là cà phê chè, đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Có nguồn gốc từ Cao Nguyên nhiệt đới Ethiopia đông Phi Châu.
 Arabica cao từ 3 – 7 m tùy điều kiện đất đai, khí hậu, độc thân hoặc nhiều thân, lá nhỏ hình oval hoặc lưỡi mác, cành nhỏ mảnh khảnh ít phân nhánh, tán nhỏ, quả hình bầu dục đôi khi hình tròn, quả chín có giống màu vàng có giống màu đỏ tươi, đường kính 10 – 15 mm, thường có hai nhân, hiếm khi có ba nhân, cuống quả khi chín rất mềm dễ rụng, nứt khi trời mưa. Thời gian nuôi quả 6 – 7 tháng, khí hậu lạnh ở miền Bắc arabica chín rộ vào tháng 12 – 1 năm sau và muộn hơn 2 – 3 tháng so với Tây Nguyên. Khoảng 800 – 1200 quả/kg, cứ 2,5 – 3 kg hạt cho ra 1 kg nhân, nhân có màu xám xanh, xanh lục,xanh nhạt, …Tuỳ theo phương pháp chế biến lượng caffein trong nhân khoảng 1 – 3%.

2.1.2.  Cà phê Robusta


 Hình I.1: Hoa và quả chín cà phê Robusta.
 Tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta, thường được gọi là cà phê vối, chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Có nguồn gốc từ khu vực sông Conggô và miền núi thấp xích đạo và nhiệt đới Tây Phi Châu.
 Robusta cao 5 – 7 m, độc thân hoặc nhiều thân, cành khá lớn phân nhiều nhánh, tán rộng, lá trung bình mặt lá gồ ghề. Đặc biệt, hoa robusta không bao h ra lại vào mùa sau tại vị trí cũ, quả chín màu đỏ sẫm, đường kính 10 – 13 mm, hình bầu dục hoặc tròn có hai nhân đôi khi một nhân, vỏ quả cứng và cuống dai hơn arabica. Cứ khoảng 3 kg quả cho ra 1 kg nhân, nhân hình bầu dục hơi tròn có màu xám xanh, xanh bạc, vàng mỡ gà,…Tuỳ thuộc vào cách chế biến lượng caffein có khoảng 1,5 – 3%.

2.1.3. Cà phê Chari
 Tên khoa học: Coffea chari, ở Việt Nam thường được gọi là cà phê mít. Có nguồn gốc ở xứ Ubangui Chari thuộc Biển Hồ gần xa mạc Xahara, du nhập vào Việt Nam năm 1905, cây lớn cao 6 – 15 m lá to hình trứng hoặc hình lưỡi mác, gân lá nổi lên ở mặt dưới, cành lớn tán rộng. Quả hình bầu dục, núm to và lồi, tùy điều kiện khí hậu vùng đất quả sẽ chín sớm hơn hoặc cùng lúc với thời điểm cây ra hoa, cà phê mít có đặc điểm ra hoa tại vị trí cũ vào vụ kế tiếp nên vào vụ thu hoạch (tháng 5 – tháng 7) trên tại một đốt cành có thể có cùng lúc quả xanh, quả chín, nụ, hoa. Đây là yếu tố bất lợi cho thu hoạch và giảm năng suất.

 Hoa của ba loại cà phê trên thường nở đồng loạt, thành chùm màu trắng muốt, hương thơm ngào ngạt. Hoa chỉ nở trong 3 – 4 ngày, thời gian thụ phấn khoảng 2 – 3 h. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 – 40.000 hoa.

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới cây cà phê
+ Vị trí địa lí
- Đất đai:
 Cà phê có rễ cọc ăn sâu vào đất nên đất trồng cà phê phải có tầng sâu 70 cm trở lên, thoáng khí, tiêu nước tốt. Chất lượng đất quyết định chất lượng cà phê.
 Đất bazan trên các Cao Nguyên nham thạch núi lửa là thích hợp nhất cho cây cà phê.
- Khí hậu:
 Cà phê là cây nhiệt đới nên đòi hỏi nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa khá cao và tùy từng chủng: Cà phê chè ưa mát, nhiệt độ tối ưu 20 – 220C, ánh sáng tán xạ nên thường được trồng ở miền núi cao 600 – 2.500 m, lượng mưa  cần 1300 – 1.900 mm.
 Cà phê vối ưa nóng ẩm , nhiệt độ 24 – 260C, thích ánh sáng trực xạ yếu, thường được trồng ở các Cao Nguyên thấp và Bình Nguyên. Lượng mưu cần từ 1.300 – 2.500 mm.
 Cà phê mít tương tự cà phê vối nhưng do cây lớn, lá dày hơn, rễ ăn sâu hơn nên chịu khô hạn hơn.
 Không ưa gió, vì gió to dễ làm gãy cành, rách lá (vối), trụi lá.
 Không ưa lạnh, nhiệt độ thấp cây kém phát triển, chậm ra hoa hoặc nụ hoa không nở.
 Độ ẩm: Cần độ ẩm cao, trên 70%, đặc biệt vào giai đoạn cây nở hoa.
 Yếu tố kỹ thuật:
 Yêu cầu kỹ thuật chăm sóc rất quan trọng, trong canh tác cây cà phê nếu không nắm vững kỹ thuật chăm sóc sẽ nhanh chóng làm cây già cỗi, sâu bệnh, giảm năng suất trầm trọng, các kỹ thuật cơ bản:
 Tỉa cành, tạo tán, hoạch định chiều cao, tuyển chọn cành nhánh khỏe mạnh triển vọng, …
 Ủ gốc, tưới tiêu là cực kỳ quan trọng, nó quyết định năng suất cà phê vì cà phê ra hoa vào cuối mùa nắng nhưng không kịp vào mùa mưa (điều kiện tự nhiên mưa đầu mùa làm rụng hoa, hỏng hoa), nên phải tưới tiêu và giữ ẩm để hoa nở rộ, đồng loạt.
 Bón phân đúng loại, đúng cách, đúng kì, đúng số lượng cần thiết.
 Theo dõi diễn tiến khí hậu, sâu bệnh, cỏ dại, sương muối, …
 Mật độ, xen canh cũng rất quan trọng.

2.3 Cấu tạo và thành phần hóa học của quả cà phê[15]
2. 3. 1 Cấu tạo giải phẫu

 Quả cà phê bao gồm các phần như sau: Lớp vỏ quả, lớp nhớt, lớp vỏ trấu, lớp vỏ lụa, nhân.
 Lớp vỏ quả: Là lớp vỏ ngoài cùng, có màu đỏ, đỏ sẫm hoặc vàng tùy chủng, mền, cà phê chè mền hơn cà phê vối và cà phê mít.
 Lớp vỏ thịt (lớp nhớt): nằm dưới lớp vỏ, mền. Vỏ thịt cà phê vối và cà phê chè mền, ngọt, mỏng, dễ bong tróc khi xay xát hơn cà phê mít.
 Vỏ trấu: Là một lớp vỏ cứng bao bọc nhân, cấu tạo chủ yếu là cellulose. Vỏ trấu cà phê chè mỏng hơn, dễ vỡ hơn cà phê vối và cà phê mít.
 Vỏ lụa: Nằm dưới lớp vỏ trấu, mỏng, mền, có màu sắc tùy chủng như đã trình bày.
 Nhân cà phê: Lớp tế bào phần ngoài của nhân cứng, có những tế bào nhỏ, trong có chứa những chất dầu.  Phía trong có những tế bào lớn và mềm hơn.  Một quả cà phê thường có từ 1 ( Biculi), 2 hoặc 3 nhân. Thông thường chỉ có 2 nhân (vối, mít, chè). Trong nhân có phôi mầm.

2. 3. 2 Cấu tạo hóa học
 Vỏ quả: Có màu đỏ do chất antoxian và các vết alkaloid, trong vỏ chứa 21,5 – 30% chất khô (tanin, caffein, các enzyme, …)

 Vỏ thịt: Là những tế bào mềm chứa nhiều đường và pectine, ngoài ra còn có enzyme pectinase phân giải pectine trong quá trình lên men và lên men đường làm pH dao động trong khoảng 5,6 – 6,4.

 Vỏ trấu: Chứa chủ yếu là cellulose, một ít caffein (0,4%) do khếch tán từ vỏ trong lúc phơi khô hoặc lên men.

 Nhân: Nước chiếm 10 – 12%, protein chiếm 9 – 11%, lipid chiếm 10 – 13%, các loại đường chiếm 5 – 10%, tinh bột chiếm 3 – 5%. Ngoài ra còn có một số chất thơm, khoáng và alkaloid. Thành phần hóa học của nhân quyết định chất lượng cà phê, nó phụ thuộc vào chủng loài, điều kiện đất đai, kỹ thuật canh tác, phương pháp chế biến bảo quản, …Và trong chế biến cà phê thì thành phần hóa học của nhân là nhân tố quan tâm hàng đầu.
Bảng I.1: Thành phần hoá học của nhân


Vai trò của một số chất hóa học trong việc tạo ra màu – mùi – vị đặc trưng của cà phê
 Hydratcarbon: Hàm lượng hydratcarbon trong cà phê khô khoảng 60%. Phần lớn là các polysaccharide hòa tan hoặc không hòa tan trong nước và một phần nhỏ là các đường saccharose, glucose, … Trong quá trình rang các hydratcarbon biến đổi nhiều, chúng có thể phân hủy thành các hợp chất khác nhau hoặc biến mất hầu như hoàn toàn như các chất đường đã nói trên. Các đường khử tham gia một số phản ứng tạo màu và mùi cho cà phê rang. Các polysaccharide không hòa tan trong nước, chúng tạo nên những thành tế bào của hạt cà phê và sau khi pha trở thành bã cà phê.

 Các chất béo: Trong cà phê nhân tổng hàm lượng chất béo chiếm khoảng 13%. Trong quá trình rang các hợp chất béo mất đi 1 – 2%. Các chất béo chủ yếu tạo thành dầu cà phê là trigliceride và diterpene, là dạng este của acid bão hòa, nhất là panmitic, behenic, arachidic. Các diterpene này rất nhạy với acid, nhiệt và ánh sáng. Hàm lượng diterpene giảm đi trong quá trình bảo quản cũng như quá trình rang có thể là do tạo thành các terpnene bay hơi, naphtalene và quinoline.

 Các acid: Đại diện quan trọng nhất của nhóm acid là các loại acid chlorogenic. Đây là những loại acid đặc trưng đối với cà phê. Trong quá trình rang chúng bị phân hủy 30 – 70%, sau khi rang có sự hình thành một số acid dễ bay hơi. Tất cả các acid này đều góp phần tạo vị chua của cà phê.

 Các loại protein: Hầu như không có mặt trong cà phê rang, do rang ở nhệt độ cao nên một phần bị phân hủy, phần còn lại kết hợp với hydratcarbon và các acid chlorogenic tạo thành những chất màu nâu. Bằng phương pháp thủy phân, người ta thấy trong thành phần protein của cà phê có những acid amin sau: cysteine, alanine, phenylalanine, histidine, leucine, lysine, …. Các acid amin này ít thấy ở trạng thái tự do, chúng thường ở dạng liên kết.  Khi gia nhiệt, các mạch polypeptide bị phân cắt, các acid amin được giải phóng ra tác dụng với nhau hoặc tác dụng với những chất tạo mùi và vị cho cà phê rang. Trong số các acid amin kể trên đáng chú ý nhất là những acid amin có chứa lưu huỳnh như cystein, methionine và proline, chúng góp phần tạo nên hương vị đặc trưng của cà phê sau khi rang.  Đặc biệt, methionine và proline có tác dụng làm giảm tốc độ oxi hóa các chất thơm, làm cho cà phê rang giữ được mùi vị khi bảo quản. Trong quá trình chế biến chỉ có một phần protein bị phân giải thành acid amin, còn phần lớn bị biến thành hợp chất không tan.

 Các loại alkaloid: Trong quá trình rang, hàm lượng caffein hầu như không thay đổi. Trigoneline giảm khoảng 75%, tạo thành các sản phẩm gồm acid nicotinic (niacin), nicitinamide và các chất thơm bay hơi như pyrine và pyrol. Trong đó đáng chú ý nhất là niacin, trong cơ thể con người có tác dụng như một loại vitamine.
 Các chất thơm: Trong thành phần của các hợp chất thơm có khoảng 50% aldehyde, 20% ketone, 8% ester, 7% heterocylic, 2% dimethylsulfide, một lượng ít hơn là các sulfide hữu cơ khác, còn có một lượng nhỏ nitrile, alcohol hoặc các hydrocarbon đã bão hòa và chưa bão hòa có trọng lượng phân tử thấp như isoprene.

 Các chất khoáng: Hàm lượng chất khoáng trong cà phê khoảng 3 – 5%, chủ yếu là kali, nitơ magie, photpho, clo. Ngoài ra còn thấy nhôm, sắt, đồng, iod, lưu huỳnh, …những chất này ảnh hưởng không tốt đến mùi vị cà phê.  Chất lượng cà phê cao khi hàm lượng chất khoáng càng thấp và ngược lại.

Tìm về cội nguồn cà phê

Cà phê từ xa xưa đã là một thứ quý giá mà con người phải tranh giành, thậm chí là dùng cả những "tiểu xảo" để có được loại hạt thơm lừng này 
Cà phê ngày nay đã là một thứ đồ uống phổ biến, thậm chí là không thể thiếu đối với nhiều người. Vậy những nước được gọi là đầu tiên đón nhận cà phê như Ả Rập, Thổ Nhĩ Kì, Anh, Pháp, Hà Lan, Mỹ hay cường quốc cà phê Brazil đón nhận thứ hạt cà phê ấy trong những thời điểm và hoàn cảnh ra sao?
 
Câu chuyện bắt đầu từ một chàng chăn dê
 
Có rất nhiều những câu chuyện về cà phê. Được truyền tai nhiều nhất có lẽ là truyện về một anh chàng chăn dê tên là Kaldi, người xứ Abyssinia thuộc nước Ethiopia ngày nay.
 
Một hôm anh ta ngồi trên một tảng đá cạnh một sườn núi bỗng nhận ra đàn dê vốn dĩ ngoan ngoãn hiền lành của mình đột nhiên có vẻ sinh động lạ thường. Sau khi đến gần quan sát kỹ hơn, Kaldi thấy những con dê đã đớp những trái màu đo đỏ ở một cái cây gần đó. Tò mò, anh ta cũng liều lĩnh bứt một vài trái ăn thử và cũng thấy mình hăng hái hẳn, tràn đầy sinh lực.
 

Người chăn dê nghĩ rằng mình đã gặp một phép lạ, vội vàng chạy về một tu viện gần đó báo cho vị quản nhiệm. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một thứ trái cấm của quỉ dữ, lập tức vứt những trái cây chín đỏ kia vào lò lửa.
 
Thế nhưng khi những hạt kia bị đốt cháy lại tỏa ra một mùi thơm lừng, người tu sĩ mới tin rằng đây chính là một món quà của Thượng Ðế nên vội vàng khều ra. Những hạt rang kia được pha trong nước để mọi người cùng thưởng thức.
 
Nhưng đó dường như chỉ là một câu chuyện cổ tích mà người ta dựng lên để giải thích về nguồn gốc của cà phê.
 
Vòng quay của cà phê
 
Có nhiều ý kiến cho rằng cà phê được người Ethiopia phát hiện ra đầu tiên như câu chuyện ở trên nhưng vẫn không có nhiều bằng chứng thuyết phục. Lịch sử vẫn công nhận Ả Rập là quốc gia đầu tiên biết đến và dùng cà phê như một loại thức uống.  
 
Trước thế kỷ thứ 10, người Ả Rập thường hái cà phê để ăn, dùng như một loại thuốc kích thích. Trái cà phê chín được giã ra trộn với mỡ súc vật nặn thành từng cục tròn để dùng làm thực phẩm khi đi đường xa. Về sau cà phê được dùng làm thức uống nhưng cũng khác so với phong cách ngày nay.
 
Thời đó người ta chỉ ngâm nước những trái cà phê rồi uống, mãi tới thời trung cổ người Ả Rập mới biết tán ra bỏ vào nước sôi. 
 
Thức uống đó chẳng mấy chốc trở nên nổi tiếng và người Ả Rập rất tự hào về phát minh này nên họ đã giữ bí mật để bảo tồn độc quyền cho sản phẩm của mình. Những khách hàng nước được thưởng thức nước cà phê đã lén lút đem hạt giống về trồng nên chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Ðông đều có giống cây này, và nó còn được truyền đi mỗi lúc một xa hơn nữa.
 
Vào thế kỷ thứ 13, cà phê đã thành một thức uống truyền thống của người Ả Rập. Những quán cà phê với tên là "qahveh khaneh" hiện diện khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị. Những quán đó trở thành những nơi sinh hoạt, với đủ loại giải trí từ âm nhạc đến cờ bạc và các triết gia, chính trị gia, thương gia thường lui tới để tụ tập sinh hoạt xã hội và bàn luận công việc làm ăn.
 
Mô tả một "qahveh khaneh".

Thế nhưng khung cảnh nhộn nhịp của các "hộp đêm" như thế cũng làm cho giới cầm quyền e ngại. Sợ rằng những phe đối lập có thể tụ họp bàn chuyện chống đối nên nhiều lần triều đình đã ra lệnh cấm và đóng cửa các "coffee houses" này nhưng không thành công.
 
Không những thế, sự cấm đoán lại còn khiến cho việc uống cà phê trở thành thói quen của thường dân vì từ nay một số đông sợ rắc rối nên uống ở nhà, kiểu cách uống cũng được nghi thức hóa.
 
Một "coffee house" ở Ả Rập.

Những thương gia đi tới những quốc gia Ả Rập đã đem thói quen này về bản xứ. Châu Âu được cho là nơi đầu tiên tiếp nhận văn hóa uống cà phê.
 
Kiện hàng cà phê đầu tiên được ghi nhận tại Venice, Ý vào năm 1615 do Thổ Nhĩ Kỳ gửi đến. Khi cà phê lan tới Rome, một lần nữa các nhà tu lại kết án đây là một thức uống của ma quỉ (the drink of the devil), và việc tranh chấp gay go đến nỗi Giáo Hoàng Clement VIII phải yêu cầu đem đến một gói cà phê mẫu để chính ông dùng thử. Và ông chỉ mới uống một lần đã "đổ" ngay thứ thức uống này và thấy rằng thật ngu xuẩn xiết bao nếu ban luật cấm cà phê.
 
 
Ðược Giáo Hoàng chấp thuận, số người uống cà phê lập tức gia tăng và chẳng bao lâu quán cà phê đầu tiên ở Châu Âu được khai trương tại nước Anh vào năm 1637 do một thương gia tên là Jacob (người Do Thái, gốc Thổ Nhĩ Kỳ) mở tại Oxford.
 
"Coffee House" Thổ Nhĩ Kỳ.
 
Kế đó là một quán cà phê khác ở London và rồi nhiều thành phố khác. Người ta bảo rằng những quán đó rất dễ nhận vì dù còn ở xa đã ngửi thấy mùi cà phê thơm nức, tới gần hơn thì bao giờ cũng có một bảng hiệu với một ly cà phê nghi ngút hay hình đầu một vị tiểu vương xứ Trung Ðông đang cầm trên tay cốc cà phê bốc khói nghi ngút.
 
 
Những quán mở gần trường đại học bao giờ cũng đông nghẹt giáo dư và sinh viên nên được gọi bằng cái mỹ danh "Đại học một xu" (penny universities), vì giá của một ly cà phê thuở đó chỉ có một penny thôi.
 

Ðến cuối thế kỷ 17, hầu hết cà phê trên thế giới đều nhập cảng từ các nước Ả Rập. Cũng như ngày nay người ta kiểm soát dầu hỏa, vào thời đó các nước Trung Ðông rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất khẩu cà phê, và chỉ được mang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín để không ai có thể gây giống để đem trồng nơi xứ khác. Người ngoại quốc cũng bị cấm không cho bén mảng đến những đồn điền cà phê. Thế nhưng dù có nghiêm nhặt đến đâu thì vẫn có cách để "luồn lách". 
 

Sau nhiều lần thất bại, người Hà Lan là dân tộc đầu tiên lấy giống được loại cây này đem về trồng thử trên đảo Java, Indonesia (khi đó là thuộc địa của họ). Thế là giống cây quí đã truyền sang Châu Âu mặc dù vẫn chỉ có thể trồng trong nhà kính.
 
Năm 1723, một sĩ quan hải quân Pháp trẻ tuổi tên là De Clieu, khi về nghỉ phép tại Paris, đã quyết định đem cây giống này về xứ Martinique, vùng biển Carribean là nơi anh ta đang làm nghĩa vụ. Chuyến đi của anh ta gặp khá nhiều gian nan, từ việc một gián điệp Hà Lan cố đổ một loại thuốc độc vào cây non, cho đến việc bị hải tặc chặn cướp con tàu rồi khi tới gần điểm đến, chiếc thuyền lại gặp bão suýt bị chìm.
 

Sau bao chông gai, cuối cùng De Clieu cũng thành công trong việc mang được cây cà phê trồng một nơi kín đáo, cắt cử ba thủy thủ canh gác ngày đêm. Chẳng bao lâu cây sau cây kết trái và chỉ hơn 50 năm sau tính ra đã có đến 18 triệu cây cà phê trồng trên hòn đảo Martinique.
 
 
Ngành buôn cà phê nay trở thành một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa Hà Lan và Pháp và chính việc tranh chấp giữa hai nước đã đưa đến một biến cố mới với nhân tố "Brazil". Trong khi hai nước có những bất đồng không thể giải quyết, họ đã nhờ chính quyền Brazil đứng ra dàn xếp.

Trong hội nghị để phân biện giữa hai bên, Brazil đã gửi một sĩ quan trẻ tuổi tên là Palheta đến làm đặc sứ.Palheta không những điển trai lại còn lanh lợi, khéo nịnh nọt nên chỉ trong ít ngày đã làm cho bà vợ của viên Thống sứ đảo Guiana của Pháp chết đứ đừ. 
 
 
Palheta bí mật yêu cầu bà ta lấy cho mình ít hạt giống để "làm kỷ niệm". Trong buổi dạ tiệc tiễn đưa vị sứ thần, bà vợ viên Thống sứ đã tặng cho Palheta một bó hoa theo đúng phép lịch sự của Pháp, kèm theo một ám hiệu kín đáo: Nằm giữa bó hoa là những hạt cà phê tươi quý hơn vàng đối với người Brazil. Và đây chính là khởi đầu cho giống cà phê trồng tại Brazil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ thành những đế quốc cà phê lớn vào bậc nhất thế giới về sau.
 

Cà phê do người Hà Lan truyền đến Bắc Mỹ vào năm 1660 ở vùng New Amsterdam. Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York. Vào lúc đó, cà phê đã thành một thức uống quen thuộc thay bia vào bữa ăn sáng. Quán cà phê đầu tiên cũng theo dạng thức của London, tương tự như một quán trọ, có phòng cho thuê, cung cấp bữa ăn, có bán rượu, chocolate và cả cà phê. Quán nào cũng có một phòng ăn chung nơi đó nhiều hoạt động công cộng được thực hiện, dần dần trở thành nơi tụ tập bàn chuyện làm ăn.
 

Thoạt tiên, cà phê chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà vẫn phổ biến hơn. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh hoàng George đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình thay đổi. Người Mỹ giả dạng làm dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem hàng hóa đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tênBoston Tea Party đã làm cho người Mỹ nghiêng qua uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này biến thành một loại quốc ẩm.
 
Biến cố Boston Tea Party.
 
Cũng từ đó, cà phê đã lan rộng ra khắp thế giới và hình thành một thứ văn hóa cà phê với rất nhiều cách pha chế, thưởng thức khác nhau. Kênh14 sẽ có một bài riêng nói về các cách pha chế để các bạn tìm hiểu thêm.

Tổ chức cà phê thế giới


Tổ chức cà phê thế giới (International Coffee Organization – ICO) được thành lập năm 1963 sau khi Hiệp định cà phê quốc tế (ký năm 1962) chính thức có hiệu lực trong nhiệm kỳ 5 năm đầu tiên. Trong thế giới hiện đại, cà phê ngày càng trở thành hàng hóa có vai trò quan trọng trong hoạt động mua bán quốc tế, đặc biệt trong thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, ngành cà phê thế giới đã có một thời kỳ dài phải chịu đựng tình cảnh sản lượng vượt quá nhu cầu và giá cà phê xuống rất thấp, trong các giai đoạn khủng hoảng và suy thoái kinh tế của những năm 1930, 1939-1945. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhu cầu cà phê tăng nhanh chóng, vượt qua khả năng đáp ứng của các quốc gia sản xuất cà phê truyền thống.
Trong thời kỳ 1950-1953, cà phê trở thành mặt hàng khan hiếm trên thị trường quốc tế. Tới năm 1953, giá cà phê tăng tới đỉnh điểm. Hệ quả là diện tích trồng cà phê được mở rộng ồ ạt và sản lượng cà phê nhanh chóng vượt xa nhu cầu tiêu thụ của thế giới. Một lần nữa, các nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê hứng chịu thiệt hại nặng nề do giá cà phê sụt giảm mạnh trong nữa sau những năm 1950 và những năm 1960.
Nhằm ổn định đời sống của người trồng cà phê và tăng trưởng kinh tế bền vững tại các quốc qia xuất khẩu cà phê, một đề xuất đã được các chính phủ thống nhất triển khai. Mục tiêu của ý tưởng liên kết các quốc gia xuất khẩu cà phê là ngăn chặn suy giảm giá cà phê, ổn định thị trường cà phê quốc tế, thông qua đó giải quyết các hệ quả tiêu cực về kinh tế và chính trị tại các quốc gia xuất khẩu cà phê châu Phi và Mỹ Latinh.

Lĩnh vực hoạt động của ICO

1. Nâng cao chất lượng

Trong giai đoạn giá cà phê sụt giảm, nhiều quốc gia xuất khẩu đã phải trải qua thời gian suy thoái kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử. Các hộ gia đình sản xuất cà phê rơi vào cảnh khốn quẫn và từ đó phát sinh vô vàn vấn đề kinh tế, chính trị, và tệ nạn xã hội. Mặt khác, người tiêu dùng cà phê cũng bắt đầu nhận thức được rằng những vấn đề kinh tế có tác động đáng kể tới chất lượng cà phê. Mua và sử dụng các loại cà phê có chất lượng cao ngày càng khó khăn hơn. Do vậy, giải pháp dung hòa lợi ích từ cả hai phía cung – cầu là tăng chất lượng cà phê và tăng giá bán.

2. Khuyến khích tiêu dùng

ICO đưa ra một bản hướng dẫn khuyến khích tiêu dùng cà phê nhằm hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, quảng bá và khuyến khích tiêu dùng, đặc biệt tại các quốc gia sản xuất cà phê.Quỹ có thể sử dụng và triển khai phiên bản tiếng Việt.} Bản hướng dẫn này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp và tổ chức trong việc thiết kế chương trình hoạt động nghiên cứu, khuyến khích tiêu dùng, cũng như chuẩn bị ngân sách triển khai.

3. Phát triển bền vững kinh tế cà phê

ICO đưa ra khái niệm kinh tế cà phê dùng để nhấn mạnh vai trò của hoạt động trồng, sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê. Về khía cạnh môi trường, cây cà phê có đóng góp quan trọng trong việc xử lý khi carbon, duy trì môi trường xanh và sạch. Cây cà phê cũng có đóng góp đáng kể về mặt xã hội với cộng đồng dân cư thông qua giá trị kinh tế nó mang lại. Do vậy, phát triển ngành cà phê còn bao gồm cả mục tiêu bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế – xã hội bền vững.

4. Đa dạng hóa

ICO cũng nghiên cứu các khả năng phát triển sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu bổ sung và thay thế cho cây cà phê nhằm hạn chế các tác động tiêu cực từ sụt giảm lượng và giá trị xuất khẩu cà phê. ICO tổ chức và thực hiện các nghiên cứu độc lập hoặc phối hợp cùng các cơ sở nghiên cứu khoa học và tổ chức phát triển quốc tế trong từng dự án cụ thể.
Hoạt động của ICO còn bao gồm cả các hội nghị quốc tế chuyên đề và thường niên.

Thành viên

Hiện có 77 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia vào hiệp hội cà phê Thế Giới, bao gồm 45 nước sản xuất và 32 nhà nhập khẩu. Việt nam chính thức gia nhập ICO vào ngày 21, tháng 8 năm 2011.

MEMBERSHIP OF THE INTERNATIONAL COFFEE ORGANIZATION 
UNDER THE INTERNATIONAL COFFEE AGREEMENT 2001
EXPORTING MEMBERS SIGNATURE
NOTIFICATION OF
PROVISIONAL APPLICATION
RATIFICATION (R)/ 
ACCEPTANCE (A)/ 
APPROVAL (AP)/ 
ACCESSION (ACC)
Angola       2  January 2002 (Acc) 
Benin        21 March 2003 (Acc) 
Bolivia       30 May 2002 (Acc) 
Brazil 18 September 2001    21 September 2001 (R) 
Burundi 24 September 2001    24 September 2001 (A) 
Cameroon       28 May 2002 (Acc) 
Central African Republic         19 December 2002 (Acc) 
Colombia 20 June 2001 20 June 2001 17 February 2004 (R) 
Congo, Democratic Republic of       12 April 2002 (Acc) 
Congo, Republic of 25 September 2001    25 September 2001 (R) 
Costa Rica 20 December 2000    25 September 2002 (R) 
Côte d'Ivoire  25 September 2001    29 January 2002 (Ap) 
Cuba 25 September 2001 30 November 2001 26 December 2001 (R) 
Dominican Republic 10 August 2001    5 March 2004 (R) 
Ecuador 15 August 2001    5 February 2002 (R) 
El Salvador       25 January 2002 (Acc) 
Equatorial Guinea  
Ethiopia 23 March 2001    16 April 2003 (R) 
Gabon 25 September 2001    25 September 2001 (A) 
Ghana 24 September 2001 24 September 2001 31 May 2006 (R) 
Guatemala       5 February 2003 (Acc) 
Guinea       21 May 2003 (Acc) 
Haiti       24 September 2002 (Acc) 
Honduras 25 September 2001    24 September 2002 (R) 
India 10 August 2001    10 September 2001 (R) 
Indonesia       23 August 2002 (Acc) 
Jamaica 25 September 2001    1 November 2001 (R) 
Kenya       1 November 2001 (Acc) 
Madagascar 24 September 2001    24 September 2001 (A) 
Malawi       12 February 2003 (Acc) 
Mexico 24 September 2001 25 January 2002 9 July 2002 (R) 
Nicaragua       12 December 2002 (Acc) 
Nigeria       26 February 2002 (Acc) 
Panama       26 July 2006 (Acc) 
Papua New Guinea       23 January 2002 (Acc) 
Paraguay       10 March 2004 (Acc) 
Philippines       28 May 2002 (Acc) 
Rwanda 4 September 2001    13 September 2001 (R) 
Tanzania 26 January 2001    31 October 2002 (R) 
Thailand 24 September 2001    24 September 2001 (R) 
Togo       9 May 2003 (Acc) 
Uganda 9 May 2001    5 October 2001 (R) 
Venezuela       8 July 2004 (Acc) 
Vietnam 22 August 2001    2 May 2002 (Ap) 
Zambia       26 March 2003 (Acc) 
Zimbabwe       03 June 2004 (Acc) 
Note:  OAMCAF Members in bold-type face.Situation as at 1 October 2009
MEMBERSHIP OF THE INTERNATIONAL COFFEE ORGANIZATION 
UNDER THE INTERNATIONAL COFFEE AGREEMENT 2001 
IMPORTING MEMBERS SIGNATURE
NOTIFICATION OF
PROVISIONAL APPLICATION
RATIFICATION (R)/ 
ACCEPTANCE (A)/ 
APPROVAL (AP)/ 
ACCESSION (ACC)
European Community 25 September 2001    25 September 2001 (Ap) 
Austria       23 September 2002 (Acc) 
Belgium
1
 25 September 2001 25 September 2001 
Bulgaria       15 March 2007 (Acc) 
Cyprus       23 January 2002 (Acc) 
Czech Republic *           
Denmark 25 September 2001    5 June 2002 (R) 
Estonia *           
Finland *           
France  24 September 2001    25 April 2005 (Ap) 
Germany 25 September 2001 25 September 2001 20 December 2002 (R) 
Greece       4 March 2004 (Acc) 
Hungary *           
Ireland 25 September 2001 25 September 2001 11 June 2002 (R) 
Italy  25 September 2001    17 May 2005 (R) 
Latvia        4 January  2006 (Acc) 
Lithuania *           
Luxembourg
1
 25 September 2001 25 September 2001     
Malta *           
Netherlands        25 May 2007 (Acc) 
Poland        15 September 2006 (Acc) 
Portugal 25 September 2001    21 May 2003 (R) 
Romania        24 March 2008 (Acc) 
Slovakia       1 June 2006 (Acc) 
Slovenia *           
Spain 20 September 2001 20 September 2001 7 June 2002 (R) 
Sweden       19 November 2001 (Acc) 
United Kingdom** 25 September 2001 25 September 2001 2 June 2003 (R) 
Japan 
2
 11 July 2001    11 July 2001 (A) 
Norway       21 May 2002 (Acc) 
Switzerland 25 September 2001 28 January 2002 30 April 2002 (R) 
United States of America       3 February 2005 (Acc) 
* Indicate EC Member States which have not yet completed  the administrative procedures  for accession to the 2001 
Agreement. 
**  Includes Bailiwick of Jersey and St. Helena.
1/ Belgium and Luxembourg are considered as two separate countries for the  purposes of the Agreement.  However,
Belgium acts on behalf of Luxembourg in all matters concerning the Agreement, under the terms of Article 31 of the 
Convention establishing a Belgo-Luxembourg Economic Union.
2/ On 29 September 2009, the Government of Japan notified the Executive Director of the ICO and the Secretary-General of 
the UN, that pursuant to the provisions of paragraph (2) of Article 52 of the Agreement, Japan